Kết nối nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp và cộng đồng, đồng thời phát triển du lịch gắn với di sản được xác định là hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm, tạo sinh kế bền vững và phát huy tinh hoa làng nghề Hà Nội trong đời sống hiện đại.
Ngày 12/10/2026, tại Hội nghị đối thoại “Kết nối di sản – kiến tạo giá trị tinh hoa Làng nghề Hà Nội”, các chuyên gia, nhà quản lý và đại diện làng nghề đã trao đổi về giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản truyền thống gắn với phát triển kinh tế, mở rộng thị trường và thúc đẩy du lịch văn hóa.
Kết nối nghệ nhân, nhà thiết kế và doanh nghiệp
Phát biểu tại hội nghị, bà Nguyễn Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội (Sở Tài chính Hà Nội), cho rằng sản phẩm làng nghề không chỉ kết tinh tài hoa của người thợ mà còn chứa đựng lịch sử, bản sắc địa phương và tri thức được trao truyền qua nhiều thế hệ. Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Theo GS.TS. Từ Thị Loan, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Văn hóa cộng đồng Việt Nam, di sản không chỉ nằm trong sản phẩm hay không gian trưng bày mà còn hiện diện ở những người trực tiếp thực hành và truyền nghề. Vì vậy, bảo tồn cần gắn với sinh kế, tạo điều kiện để nghệ nhân tiếp tục hành nghề, đưa tri thức truyền thống vào sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm văn hóa mà vẫn giữ được bản sắc.
Hội nghị đối thoại Kết nối di sản, kiến tạo tinh hoa làng nghề 2026
Ở góc độ thiết kế và đào tạo, PGS.TS. Đặng Mai Anh, nguyên Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, nhấn mạnh vai trò của việc kết nối nghệ nhân với nhà thiết kế, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo.
Theo bà, nghệ nhân nắm giữ những bí quyết, kỹ thuật và kinh nghiệm quý báu. Việc đưa sinh viên đến làng nghề, trực tiếp làm việc với nghệ nhân sẽ giúp người trẻ tiếp cận tri thức bản địa, từ đó phát triển những ý tưởng sáng tạo có tính ứng dụng, phù hợp với nhu cầu thị trường.
Để đưa ý tưởng thành sản phẩm thương mại, quá trình hợp tác cần được triển khai xuyên suốt từ nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện mẫu đến tổ chức sản xuất và tìm kiếm đầu ra. Trong đó, nhà thiết kế nắm bắt xu hướng thẩm mỹ và nhu cầu khách hàng; nghệ nhân am hiểu vật liệu, kỹ thuật chế tác; doanh nghiệp đảm nhiệm kết nối thị trường, tổ chức sản xuất và phân phối.
Thực tế, nhiều cơ sở làng nghề có sản phẩm chất lượng nhưng còn hạn chế về nhận diện thương hiệu, bao bì và quảng bá. Điều này khiến sản phẩm khó tạo sự khác biệt khi tiếp cận thị trường quốc tế, trong khi yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng và khả năng cung ứng ổn định ngày càng cao.
Do đó, hỗ trợ làng nghề cần vượt ra ngoài việc sáng tạo mẫu mã, hướng tới nghiên cứu thị trường, định vị thương hiệu, xây dựng câu chuyện sản phẩm và phát triển hệ thống phân phối. Sự tham gia của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa sản phẩm từ ý tưởng đến sản xuất thực tế, tạo đầu ra ổn định cho người làm nghề.
Bà Nguyễn Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội (Sở Tài chính Hà Nội) phát biểu tại sự kiện
Theo bà Đặng Mai Anh, sản phẩm muốn vươn xa cần kết hợp hài hòa giữa công năng, kỹ thuật chế tác và dấu ấn văn hóa. Thiết kế phải gắn với năng lực sản xuất và chiến lược thị trường để vừa giữ được giá trị truyền thống, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện đại.
Bát Tràng và bài toán phát triển du lịch di sản
Bên cạnh phát triển sản phẩm, kết nối di sản với du lịch được xem là hướng đi nhằm gia tăng giá trị kinh tế và tạo thêm sinh kế cho cộng đồng làng nghề.
Bà Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội, cho rằng cần chuyển hóa những giá trị văn hóa, lịch sử được tích lũy qua nhiều thế hệ thành nguồn lực kinh tế, góp phần tạo sự thịnh vượng cho cộng đồng.
“Chúng ta cần làm sao chuyển hóa được hồn cốt văn hóa, những trầm tích lịch sử hàng trăm, hàng nghìn năm của các làng nghề thành nguồn lực kinh tế, tạo sự thịnh vượng cho cộng đồng”, bà Vinh chia sẻ.
Theo bà Vinh, Bát Tràng được lựa chọn làm mô hình thử nghiệm kết nối di sản nghề gốm với hoạt động du lịch và trải nghiệm văn hóa. Tuy nhiên, việc trưng bày sản phẩm đơn thuần chưa đủ để du khách hiểu hết chiều sâu của làng nghề. Sức hấp dẫn còn nằm ở cơ hội gặp gỡ nghệ nhân, tìm hiểu cách chọn đất, thử men, tạo hình và lắng nghe những câu chuyện về kỹ thuật được truyền lại qua nhiều thế hệ.
Trung tâm Tinh hoa Làng nghề Việt là không gian kết nối kiến trúc, trưng bày và trải nghiệm nghề gốm, có sự tham gia thiết kế của kiến trúc sư Hoàng Thúc Hào. Theo bà Vinh, ý tưởng được ấp ủ từ trước năm 2018, sau đó từng bước được hiện thực hóa và đưa vào hoạt động.
Từ nền tảng này, mục tiêu tiếp theo là phát triển mô hình bảo tàng sinh thái Bát Tràng, kết nối không gian làng, nhà cổ, cư dân, nghề thủ công và lễ hội. Theo bà Vinh, đề án đã được xây dựng, trình thành phố; cộng đồng đang huy động các chuyên gia tham gia.
Tuy nhiên, thách thức lớn là xây dựng cơ chế vận hành hiệu quả. Mô hình bảo tàng sống đòi hỏi sự phối hợp giữa chính quyền, cộng đồng dân cư, đơn vị quản lý, doanh nghiệp du lịch và chuyên gia; đồng thời cần làm rõ trách nhiệm, nguồn lực đầu tư, phương thức tổ chức hoạt động và cơ chế phân chia lợi ích.
Toàn cảnh sự kiện
Người dân và nghệ nhân cần được xác định là chủ thể trực tiếp tham gia phát huy giá trị di sản. Nếu hoạt động đón khách, giới thiệu nghề và tổ chức trải nghiệm không tạo ra nguồn thu tương xứng với thời gian, công sức bỏ ra, cộng đồng sẽ khó duy trì sự tham gia lâu dài.
Bên cạnh đó, phát triển du lịch làng nghề cần đi cùng hoàn thiện hạ tầng, dịch vụ ăn uống, vệ sinh, thông tin chỉ dẫn và các hoạt động trải nghiệm phù hợp. Những trải nghiệm gần gũi như thưởng trà, thưởng thức món ăn truyền thống hay nghe nghệ nhân kể chuyện nghề có thể tạo sức hút riêng, giúp du khách hiểu sâu hơn về văn hóa địa phương.
Liên kết các làng nghề, mở rộng không gian trải nghiệm
Để đa dạng hóa sản phẩm du lịch, bà Hà Thị Vinh đề xuất kết nối các làng nghề có thế mạnh khác nhau như Phú Vinh với mây tre đan, Quất Động với nghề thêu và Quảng Phú Cầu với nghề làm hương.
Mỗi điểm đến có thể mang đến một trải nghiệm riêng, từ tìm hiểu kỹ thuật, trực tiếp thử sức với hoạt động chế tác đến khám phá ẩm thực và đời sống văn hóa địa phương. Khi được tổ chức thành hành trình thống nhất, các điểm đến có thể bổ trợ cho nhau, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng chi tiêu của du khách.
Để mô hình vận hành hiệu quả, cần có sự phối hợp giữa các làng nghề và doanh nghiệp lữ hành trong xây dựng lịch trình, tổ chức phương tiện, thống nhất chất lượng dịch vụ, giá bán và đầu mối điều phối.
Một đề xuất khác được bà Vinh đưa ra là xây dựng không gian giới thiệu tinh hoa làng nghề tại Lương Sơn, với diện tích dự kiến khoảng 6.000 m², quy tụ 12 làng nghề tiêu biểu. Mỗi làng nghề có không gian giới thiệu riêng, kết hợp hoạt động tôn vinh tổ nghề, trình diễn kỹ thuật, tổ chức lễ hội và trải nghiệm luân phiên trong năm.
Theo định hướng này, không gian giới thiệu có thể trở thành điểm đến quảng bá sản phẩm thủ công và văn hóa làng nghề. Tuy nhiên, trước khi triển khai, cần làm rõ phương án đầu tư, cơ chế quản lý, nguồn khách, chi phí vận hành và mối liên kết với các làng nghề gốc.
Nếu thiếu hoạt động thường xuyên, sự tham gia của nghệ nhân hoặc kênh tiêu thụ sản phẩm, công trình khó phát huy hiệu quả. Việc kết nối với các tuyến du lịch từ Hà Nội cũng cần được tính toán nhằm bảo đảm nguồn khách ổn định.
Đại biểu tham dự sự kiện chụp hình lưu niệm
Theo bà Vinh, nhân rộng mô hình không có nghĩa áp dụng một khuôn mẫu chung cho mọi địa phương. Mỗi làng nghề cần xác định thế mạnh, năng lực cộng đồng và điều kiện hạ tầng để lựa chọn hướng phát triển phù hợp. Quy hoạch, đào tạo nhân lực, phát triển sản phẩm và quảng bá cần được triển khai đồng bộ, đi cùng cơ chế huy động nguồn lực và đánh giá hiệu quả cả về bảo tồn di sản lẫn cải thiện thu nhập.
Từ những vấn đề đặt ra tại hội nghị, có thể thấy phát huy tinh hoa làng nghề Hà Nội không chỉ là câu chuyện gìn giữ kỹ thuật thủ công hay thu hút thêm khách du lịch, mà còn đòi hỏi hình thành chuỗi giá trị kết nối di sản với sáng tạo sản phẩm, phát triển dịch vụ và mở rộng thị trường.
Với Bát Tràng, thành công của mô hình bảo tàng sống không chỉ được đo bằng lượng khách tham quan, mà còn ở việc nghệ nhân tiếp tục gắn bó với nghề, tri thức truyền thống được trao truyền và người dân có thêm nguồn thu ổn định.
Khi cộng đồng được tham gia vào quá trình ra quyết định, trực tiếp gìn giữ di sản và hưởng lợi từ hoạt động khai thác, làng nghề mới có thể phát triển bền vững. Đây cũng là cơ sở để những giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục được phát huy trong đời sống đương đại, đồng thời tạo thêm động lực cho kinh tế địa phương.